Tác động của quy mô hội đồng quản trị đến mức độ rủi ro của các doanh nghiệp Việt Nam

Tóm tắt

Do khó khăn hơn để đạt được một sự đồng thuận chung, các nhóm ra quyết định lớn thường có

xu hướng chấp thuận các quyết định ôn hòa hơn. Điều này ngụ ý rằng các công ty với số lượng

thành viên Hội đồng Quản trị (HĐQT) lớn thường có mức chấp nhận rủi ro thấp. Nghiên cứu

này kiểm tra liệu một tác động tương tự có được tìm thấy với các doanh nghiệp Việt Nam, và liệu

cơ hội tăng trưởng có phải là nhân tố điều tiết tác động này hay không. Sử dụng dữ liệu các công

ty niêm yết trên Sở Giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh (HoSE) trong giai đoạn

2007 – 2016, với phương pháp hồi quy chéo, kết quả của nghiên cứu chỉ ra rằng các doanh

nghiệp có quy mô HĐQT lớn hơn tương ứng với mức chấp nhận rủi ro thấp hơn. Tuy nhiên, tác

động này nhỏ hơn ở các nước phát triển. Tính đồng nhất trong cơ cấu HĐQT và ít sự khác biệt

chéo giữa các công ty Việt Nam đóng một vai trò quan trọng trong giải thích sự khác biệt này.

Ngoài ra, nghiên cứu chỉ ra rằng, tác động của quy mô HĐQT là ít đáng kể hơn ở các công ty có

ít cơ hội tăng trưởng, nhưng mạnh hơn ở các công ty có nhiều cơ hội tăng trưởng

pdf18 trang | Chuyên mục: Tài Chính Doanh Nghiệp | Chia sẻ: yen2110 | Lượt xem: 276 | Lượt tải: 0download
Tóm tắt nội dung Tác động của quy mô hội đồng quản trị đến mức độ rủi ro của các doanh nghiệp Việt Nam, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút "TẢI VỀ" ở trên
ận rủi ro thấp của doanh nghiệp. 
Trong khi tại các doanh nghiệp có cơ hội 
tăng trưởng lớn, HĐQT lớn được kết hợp 
với chấp nhận rủi ro thấp hơn, và có ý 
nghĩa thống kê ở mức 5% ở đo lường rủi 
ro bằng độ lệch chuẩn của Tobin’s Q. 
Điều này có thể cho thấy, khi các công ty 
có được nhiều cơ hội đầu tư, việc đa dạng 
hóa là dễ dàng và do đó việc chấp nhận rủi 
ro để tìm kiếm lợi nhuận càng được xem 
xét thận trọng. 
5. Kết luận và hàm ý chính sách 
5.1 Kết luận 
Với lập luận chính của tác giả là, do sự 
khác biệt đáng kể giữa các nền kinh tế 
phương Tây và Việt Nam trong cơ cấu 
quản trị, thành phần HĐQT, môi trường 
thể chế và văn hoá, mối quan hệ tiêu cực 
giữa quy mô HĐQT và chấp nhận rủi ro 
doanh nghiệp có thể bị ảnh hưởng. Ngoài 
ra, nhiều công ty Việt Nam vẫn còn chịu 
ảnh hưởng của Nhà nước, một đặc trưng 
mà có thể ảnh hưởng đến sự lựa chọn 
chính sách rủi ro của các nhà điều hành và 
HĐQT. Vì vậy, trong nghiên cứu này, tác 
giả liên kết quy mô HĐQT và chấp nhận 
rủi ro của các công ty ở Việt Nam, một thị 
trường đang phát triển, khung pháp lý 
chưa hoàn thiện và việc áp dụng các 
nguyên tắc điều hành công ty còn đang 
trong quá trình điều chỉnh. Nghiên cứu 
này cung cấp thêm vào các tài liệu hiện có 
và cung cấp những hiểu biết mới về sự 
tương tác giữa các tính năng quản trị 
doanh nghiệp và sự lựa chọn rủi ro quản lý 
trong một thị trường đang phát triển. 
Những phát hiện đầu tiên của nghiên 
cứu là mối liên kết ngược chiều giữa quy 
mô HĐQT và mức chấp nhận rủi ro của 
các doanh nghiệp niêm yết trên HoSE. Phù 
hợp với những phát hiện gần đây của 
Cheng (2008), Nakano (2011), Nakano và 
Nguyen (2012), Haider và Fang (2016) 
Tuy nhiên, tác động kinh tế của sự thay 
đổi quy mô HĐQT đến chấp nhận rủi ro ở 
các doanh nghiệp Việt Nam là nhỏ hơn 
nhiều so với các nền kinh tế phương Tây 
và các nền kinh tế phát triển khác như 
Nhật Bản, nhấn mạnh vai trò của tính 
đồng nhất và tính chất sở hữu tập trung ở 
các doanh nghiệp Việt Nam. Thứ hai, tỷ lệ 
sở hữu của HĐQT, sở hữu Nhà nước và sở 
hữu của các nhà đầu tư tổ chức có khuynh 
hướng làm giảm mức chấp nhận rủi ro của 
doanh nghiệp. Điều này có thể do lo ngại 
phúc lợi cá nhân, do tính ỷ lại, hoặc do 
vấn đề thủ tục pháp lý mà trong đó một dự 
án muốn được thực hiện cần phải được 
phê duyệt qua nhiều cấp, mức độ sàng lọc 
cao hơn nên khả năng để một dự án rủi ro 
được chấp nhận cũng thấp hơn. 
Theo lập luận của Coles và cộng sự 
(2008), tác giả nhắm mục tiêu vào tìm 
kiếm nhân tố nào có thể làm nên sự khác 
biệt giữa các công ty trong mối quan hệ 
giữa quy mô HĐQT và mức độ chấp nhận 
rủi ro của các doanh nghiệp khác nhau. Sử 
dụng Tobin’s Q cao hơn trung vị để xác 
định các doanh nghiệp có đa dạng các cơ 
hội đầu tư, tác giả nhận thấy rằng biến 
động hiệu quả hoạt động giảm mạnh khi 
33 
Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 46, tháng 8/2018 
các công ty hoạt động với HĐQT lớn hơn. 
Mối quan hệ này là không đáng kể ở các 
công ty có ít cơ hội tăng trưởng. Trong 
khi, chiều hướng tác động của các biến 
kiểm soát là tương tự. 
5.2 Hàm ý chính sách 
Kết quả của nghiên cứu chỉ ra quy mô 
HĐQT càng lớn thì mức chấp nhận rủi ro 
doanh nghiệp càng giảm, hơn nữa, mối 
quan hệ này phụ thuộc vào tập hợp các cơ 
hội đầu tư của doanh nghiệp. Do đó, phù 
hợp với thảo luận của Hermalin và 
Weisbach (1998, 2003), các công ty cần 
phải thiết kết cơ cấu quản trị phù hợp 
trong môi trường hoạt động của mình. Ví 
dụ, các công ty có thể xem xét HĐQT nhỏ 
hơn để phù hợp hơn với điều kiện kinh 
doanh rủi ro. Trong trường hợp đó, giảm 
quy mô HĐQT sẽ không gây ra chấp nhận 
rủi ro lớn hơn. Mặt khác, quan niệm cho 
rằng rủi ro có liên quan đến sự phức tạp 
trong các hoạt động của công ty cho thấy 
rằng các công ty mạo hiểm nên hoạt động 
với HĐQT lớn hơn vì nhu cầu được tư vấn 
và giám sát của họ lớn hơn (Coles và cộng 
sự, 2008; Linck và cộng sự, 2008). Trong 
bối cảnh nghiên cứu này, hàm ý là các 
công ty cần điều chỉnh quy mô HĐQT của 
mình với chất lượng của tập hợp các cơ 
hội đầu tư của họ. Một công ty có nhiều cơ 
hội đầu tư, tăng quy mô HĐQT càng làm 
giảm mức rủi ro của doanh nghiệp. Vì vậy, 
tùy theo mục tiêu hoạt động của doanh 
nghiệp là nhằm tìm kiếm lợi nhuận cao 
hay bảo toàn giá trị hiện có để thiết lập 
một HĐQT nhỏ hay lớn, tương ứng. Bởi 
vì, nếu mục tiêu của doanh nghiệp là gia 
tăng lợi nhuận, doanh nghiệp cần chấp 
nhận các dự án rủi ro hơn, khi đó, doanh 
nghiệp cần duy trì một HĐQT gọn nhẹ, ít 
thành viên hơn để dễ dàng đạt được sự 
đồng thuận, và ngược lại. Đặc biệt, bằng 
cách duy trì quy mô HĐQT lớn trong một 
môi trường đặc trưng bởi đa dạng các cơ 
hội đầu tư của các công ty Việt Nam, có 
thể cản trở khả năng để họ đưa ra quyết 
định táo bạo và tạo ra giá trị lớn cho doanh 
nghiệp. Còn với các doanh nghiệp có ít cơ 
hội đầu tư, tác động của tăng quy mô 
HĐQT có thể ko mạnh mẽ bằng, tuy 
nhiên, tác động âm của quy mô HĐQT 
đến mức độ rủi ro là doanh nghiệp vẫn 
hiện hữu. Do đó, để phù hợp với số lượng 
các dự án của mình, các doanh nghiệp này 
nên thiết kế HĐQT tối giản, mặc dù thực 
tế không có một quy mô HĐQT tối ưu đối 
với tất cả các doanh nghiệp, song theo tác 
giả số lượng thành viên HĐQT nên ở mức 
4 đến 5 thành viên, nhằm giảm những ý 
kiến trái chiều mà có thể dẫn đến loại bỏ 
hầu hết các dự án, dẫn đến mất cơ hội gia 
tăng giá trị công ty. Bỏ qua nguyên tắc này 
có thể sẽ ảnh hưởng đến các quyết định 
của công ty, dẫn đến hiệu suất thấp hơn. 
Tài liệu tham khảo 
Tiếng Anh 
Adams, R., Almeida, H., & Ferreira, D. (2005). Powerful CEOs and their impact on 
corporate performance. Review of Financial Studies, 18, 1403-1432. 
34 
Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 46, tháng 8/2018 
Adams, R. & Ferreira, D. (2010). Moderation in groups: Evidence from betting on ice 
break-ups in Alaska. Review of Economic Studies, 77, 882-913. 
Andres, P., Azofra, V., & Lopez, F. (2005). Corporate boards in OECD countries: Size, 
composition, functioning and effectiveness. Corporate Governance: An International 
Review, 16, 342-358. 
Bar, M., Kempf, A., & Ruenzi, S. (2005). Team management and mutual funds. Working 
Paper, Cologne University. 
Bhagat, S., & Black B.S. (2002). Board independence and long term firm performance. 
Journal of Corporation Law, 27, 231-273. 
Boone, A., Casares Field, L., Karpoff, J., & Raheja, C. (2007). The determinants of 
corporate board size and composition, An empirical analysis. Journal of Financial 
Economics, 85, 66–101. 
Brickley J., Coles J., Terry R. (1994). Outside directors and the adoption of poison pills. 
Journal of Finance Economic, 35, 371–390. 
Cheng, S. 2008. Board size and the variability of corporate performance. Journal of 
Financial Economics, 87, 157-176. 
Coles, J., Daniel, N., & Naveen, L. (2006). Managerial incentives and risk-taking. 
Journal of Financial Economics, 79, 431-468. 
Coles, J., Daniel, N., & Naveen, L. (2008). Boards: Does one size fit all? Journal of 
Financial Economics, 87, 329-356. 
Fama, E. (1980). Agency problems and the theory of the firm. Journal of Political 
Economy, 88, 288-307. 
Fama, E.F., Jensen, M.C. (1983). Separation of ownership and control. Journal of Law 
and Economics, 26, 301–325. 
Guest, P. (2009). The impact of board size on firm value: Evidence from the UK. 
European Journal of Finance, 15, 385-404. 
Haider, J & Fang, H-X. (2016). Board Size and Corporate Risk: Evidence from China. 
Journal of Asia-Pacific Business, 17(3), 229-248. 
Hermalin, B., Weisbach, M. (1991). The effects of board composition and direct 
incentives on firm performance. Financial Managemen, 20, 101. 
Hermalin, B.E., Weisbach, M.S. (2003). Boards of directors as an endogenously 
determined institution: A survey of the economic literature. FRBNY Economic Policy 
Review, 9, 7–26. 
35 
Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing số 46, tháng 8/2018 
Jensen, M. C. M. (1993). The modern industrial revolution, exit, and the failure of 
internal control systems. Journal of Finance, 48(3), 831–880. 
Koerniadi, H., Krishnamurti, C., & Tourani-Rad, A. (2014). Corporate governance and 
risktaking in New Zealand. Australian Journal of Management, 39(2), 227–245. 
Kogan, N. & Wallach, M. (1964). Risk taking: A study in cognition and personality. New 
York: Holt. 
May, D. (1995). Do managerial motives influence firm risk reduction strategies? Journal 
of Finance, 50, 1291-1308. 
Mehran, H. (1995). Executive compensation structure, ownership, and firm performance. 
Journal of Financial Economic, 38, 163–184. 
Morck, R. & Nakamura, M. (1999). Banks and corporate control in Japan. Journal of 
Finance, 54, 319–339. 
Moscovici, S. & Zavalloni, M. (1969). The group as a polarizer of attitudes. Journal of 
Personality and Social Psychology, 12,125-135. 
Nguyen, P. (2011). Corporate governance and risk-taking: Evidence from Japanese firms. 
Pacific-Basin Finance Journal, 19(3), 278–297. 
Sah, R. & Stiglitz, J. (1986). The architecture of economic systems: Hierarchies and 
polyarchies. American Economic Review, 76, 716-727. 
Sah, R. & Stiglitz, J. (1991). The quality of managers in centralized versus decentralized 
organizations. Quarterly Journal of Economics, 106, 289-295. 
Weisbach, M.S. (1988). Outside directors and CEO turnover. Journal of Financial 
Economics, 20, 431–460. 
Yermack, D. (1996). Higher market valuation of companies with a small board of 
directors. Journal of Financial Economics, 40, 185-211. 
Tiếng Việt 
Nguyễn Thu Hiền & Trần Duy Thanh (2011). Cấu trúc sở hữu và khả năng thao túng 
doanh nghiệp. Theo 
huu-va-kha-nang-thao-tung-doanh-nghiep-3255716/. 
Lê Tấn Phước (2017). Tác động cấu trúc sở hữu đến hiệu quả hoạt động của doanh 
nghiệp niêm yết. Tạp chí Tài chính, 
doi/trao-doi-binh-luan/tac-dong-cau-truc-so-huu-den-hieu-qua-hoat-dong-cua-doanh-
nghiep-niem-yet-121151.html. 
36 

File đính kèm:

  • pdftac_dong_cua_quy_mo_hoi_dong_quan_tri_den_muc_do_rui_ro_cua.pdf
Tài liệu liên quan