Đặc điểm phát triển thể chất của học sinh dân tộc thiểu số lứa tuổi 11-14 khu vực Tây Nguyên thời điểm 10/2018
Tóm tắt:
Nghiên cứu được thực hiện trên nhóm đối tượng gồm 160 học sinh các dân tộc thiểu số (HS
DTTS) có độ tuổi từ 11 đến 14 tuổi khu vực Tây Nguyên theo 3 nhóm chỉ tiêu, test. Kết quả nghiên
cứu cho thấy, phát triển thể chất của HS DTTS tuân thủ qui luật sinh học tự nhiên, hoàn thiện và
tăng trưởng cùng với sự gia tăng của tuổi, số liệu thu được ở mẫu nghiên cứu có độ tập trung.
Chiều cao đứng phát triển có sự khác biệt giữa nam và nữ,ở nữ tiếp tục tăng mạnh đến tuổi 11,
trong 3 năm (9,10,11tuổi) tăng gần 30cm, sau tuổi 11 mức tăng chậm (gần 2cm/năm); ở nam tăng
trưởng đều, trung bình đạt 5cm/năm. Kết quả đã cho thấy, sự thay đổi nội tiết khi trẻ nữ bước vào
giai đoạn phát dục trưởng thành sớm hơn và mạnh hơn nam giới là nhân tố chính thúc đẩy phát
triển thể chất ở giai đoạn này. So sánh với các nghiên cứu khác cho thấy các chỉ số nhân trắc của
HS DTTS độ tuổi 11-14 thấp hơn kết quả nghiên cứu các năm gần đây và cao hơn so với giai đoạn
trước năm 2000. Cân nặng được đánh giá trong sự phát triển cân đối với chiều cao cơ thể thông
qua BMI (theo tiêu chuẩn của FAO) thì độ tuổi 11–12 cả nam và nữ đều nằm trong khoảng thiếu
cân độ I, sang tuổi 13,14 đạt mức trung bình. Về chức năng sinh lý được đánh giá theo 3 chỉ tiêu:
Dung tích sống, Phản xạ đơn, Phản xạ phức. Kết quả kiểm tra cũng cho thấy một qui luật tương tự
và đạt mức trung bình thấp.
Thể lực được đánh giá theo 7 test phản ánh toàn diện các tố chất: Nhanh, mạnh, mềm dẻo, sức
bền và khả năng phối hợp vận động. Nhìn chung, các tố chất thể lực phát triển theo tuổi với nhịp
độ tăng trưởng không đều giữa các độ tuổi, giữa trẻ nam và nữ có sự khác biệt. Ở nữ, ngoại trừ
sức mạnh tăng nhanh suốt giai đoạn này, thì các tố chất còn lại đều giảm hoặc tương đương độ
tuổi 10. Ở nam, sức mạnh tăng nhanh sau tuổi 12, các tố chất còn lại tăng mạnh ở lứa tuổi 11, sau
đó mức tăng giảm và ổn định ở mức thấp
458.10 12.79 10.72 Phản xạ phức (ms) 500.27 1.56 -49.66 617.67 19.57 -20.25 So sánh với các nghiên cứu khác ở Châu Á và Châu Âu trước 2003 [3] cũng cho thấy các chỉ số nhân trắc của HS DTTS lứa tuổi 11-14 khu vực Tây Nguyên hiện tại đều thấp hơn, ví dụ: Trẻ 11 tuổi ở mẫu nghiên cứu có chiều cao đứng của nam là 141.5cm, nữ là 146.3cm so với 142.6cm và 144.9cm của Nhật, 143.0cm và 143.2cm của Đức; Trẻ 14 tuổi ở mẫu nghiên cứu có chiều cao đứng của nam là 158.6cm, nữ là 152.5cm so với 162.7cm: 155.3cm của Nhật, 160.4 cm và 159.5 của Đức [3]. Cân nặng khi xem xét chỉ tiêu này độc lập cũng có những đặc điểm phát triển tương đồng với chiều cao. Khi đánh giá trong sự phát triển cân đối với chiều cao cơ thể thông qua BMI, nếu căn cứ tiêu chuẩn đánh giá của FAO [5] thì độ tuổi 11–12 cả nam và nữ đều nằm trong khoảng thiếu cân độ I, sang tuổi 13,14 đạt mức trung bình. Tuy nhiên, tiêu chuẩn của FAO thường chỉ áp dụng cho tuổi trưởng thành. Căn cứ tiêu chuẩn đánh giá BMI theo độ tuổi (iFitness.vn) thì các nhóm trẻ đối tượng khảo sát đều nằm trong mức phát triển bình thường, cân đối nhưng tiệm cận với mức gầy (thiếu cân). Đây là vấn đề cần được quan tâm, đặc biệt dưới góc độ dinh dưỡng và chế độ sinh hoạt. 2. Đặc điểm chức năng sinh lý của HS DTTS lứa tuổi 11 – 14 khu vực Tây Nguyên Chức năng sinh lý được đánh giá theo 3 chỉ tiêu: Dung tích sống, phản xạ đơn và phản xạ phức. Kết quả kiểm tra trình bày tại bảng 2. Kết quả nghiên cứu cho thấy, sự phát triển chức năng sinh lý của HS DTTS lứa tuổi 11-14 phát triển tuân thủ qui luật sinh học tự nhiên. Quá trình hoàn thiện và tăng trưởng diễn ra cùng với sự gia tăng của tuổi, mức tăng trưởng không đồng đều giữa các độ tuổi, các số liệu thu được ở mẫu nghiên cứu có độ tập trung. Sự gia tăng chỉ tiêu dung tích sống diễn ra trong suốt giai đoạn, mạnh nhất ở nữ độ tuổi 11 và nam ở độ tuổi 13. Đây cũng chính là giai đoạn nhạy cảm (mẫn cảm) phát triển sức bền lần thứ nhất (sức bền yếm khí) [3]. Giá trị gia tăng của các chỉ tiêu phản ánh tốc độ phản xạ không lớn, tăng nhanh hơn ở độ tuổi 11 và có xu hướng chậm lại và tăng giảm không rõ ràng khi bước vào độ tuổi 12-14. Kết quả này phù hợp với qui luật sinh học tự nhiên do đặc tính của thần kinh có tính bảo thủ cao, phụ thuộc nhiều vào đặc điểm cá thể (gene di truyền). Đây cũng chính là giai đoạn nhạy cảm phát triển sức nhanh tần số động tác (7-12 tuổi) [3].So sánh với các nghiên cứu khác cho thấy các chỉ số phản ánh chức năng thần kinh của HS DTTS lứa tuổi 11-14 khu vực Tây Nguyên có giá trị tương đương. 3. Đặc điểm phát triển thể lực của HS DTTS lứa tuổi 11-14 khu vực Tây Nguyên Thể lực được đánh giá theo 7 test, phản ánh toàn diện các tố chất: Nhanh, mạnh, mềm dẻo, sức bền và khả năng phối hợp vận động. Kết quả kiểm tra được xử lý dưới 2 hình thức: Đặc điểm phát triển thể lực và Đánh giá tổng hợp thể lực 43 - Sè 1/2019 Bảng 3. Đặc điểm phát triển thể lực của HS DTTS lứa tuổi 11-14 khu vực Tây nguyên, thời điểm 10/2018 Bảng 4. Kết quả đánh giá tổng hợp thể lực theo tiêu chuẩn rèn luyện của HS DTTS lứa tuổi 11 – 14 khu vực Tây Nguyên, thời điểm 10/2018 (nnhóm = 20) Độ tuổi Test Nam (n=20) Độ tăng /năm nữ (n=20) Độ tăng /nămx SD x SD 11 Lực bóp tay thuận (kG) 18.72 1.70 1.7 22.67 1.93 3.22 Nằm ngửa co gối gập thân (lần) 17.70 1.64 1.35 15.30 1.42 -1.93 Chạy xuất phát cao 30m (giây) 5.46 0.37 -0.69 5.76 0.50 -0.39 Dẻo gập thân (cm) 4.50 1.69 -1.09 6.60 3.27 -1.18 Chạy con thoi 4x10m (giây) 10.21 0.96 -0.96 10.76 1.03 -1.54 Bật xa tại chỗ (cm) 168.00 12.39 5.82 158.30 11.81 4.3 Chạy tùy sức 5 phút (m) 877.70 88.93 40.05 766.60 65.91 -111.4 12 Lực bóp tay thuận (kG) 25.71 2.37 6.99 28.13 2.77 5.46 Nằm ngửa co gối gập thân (lần) 19.90 1.79 2.2 12.33 0.87 -2.97 Chạy xuất phát cao 30m (giây) 5.23 0.28 -0.23 6.05 0.58 0.29 Dẻo gập thân (cm) 4.10 2.02 -0.4 7.33 4.27 0.73 Chạy con thoi 4x10m (giây) 11.01 0.98 0.8 11.10 1.04 0.34 Bật xa tại chỗ (cm) 178.70 16.30 10.7 159.30 5.85 1 Chạy tùy sức 5 phút (m) 868.30 72.99 -9.4 744.80 57.47 -21.8 13 Lực bóp tay thuận (kG) 28.22 2.65 2.51 29.60 2.65 1.47 Nằm ngửa co gối gập thân (lần) 20.00 1.41 0.1 13.20 1.32 0.87 Chạy xuất phát cao 30m (giây) 5.05 0.48 -0.18 5.64 0.27 -0.41 Dẻo gập thân (cm) 8.00 3.39 3.9 6.50 4.09 -0.83 Chạy con thoi 4x10m (giây) 11.23 1.12 0.22 12.10 1.00 1 Bật xa tại chỗ (cm) 195.45 18.50 16.75 160.20 18.15 0.9 Chạy tùy sức 5 phút (m) 874.64 82.86 6.34 738.00 102.77 -6.8 14 Lực bóp tay thuận (kG) 38.23 3.30 10.01 27.09 4.16 -2.51 Nằm ngửa co gối gập thân (lần) 19.80 1.81 -0.2 17.80 1.75 4.6 Chạy xuất phát cao 30m (giây) 4.86 0.14 -0.19 5.70 0.49 0.06 Dẻo gập thân (cm) 8.90 2.96 0.9 10.00 5.25 3.5 Chạy con thoi 4x10m (giây) 10.63 0.66 -0.6 11.92 0.57 -0.18 Bật xa tại chỗ (cm) 196.40 16.94 0.95 162.50 15.29 2.3 Chạy tùy sức 5 phút (m) 869.90 46.59 -4.74 734.40 65.97 -3.6 Tuổi Phânloại 11 tuổi 12 tuổi 13 tuổi 14 tuổi Nam (%) Nữ (%) Nam (%) Nữ (%) Nam (%) Nữ (%) Nam (%) Nữ (%) 11 Tốt 10 20 40 10 15 90 30 0 Đạt 90 80 60 90 85 10 70 100 K.đạt 0 0 0 0 0 0 0 0 theo tiêu chuẩn rèn luyện (căn cứ QĐ 53/QĐ- BGDĐT) trên cơ sở 4 test (Bật xa tại chỗ, Chạy tùy sức 5 phút, Lực bóp tay thuận và Chạy 30m XPC), được trình bày tại các bảng 3 và 4. Kết quả trên bảng 3 cho thấy các tố chất thể lực phát triển theo tuổi với nhịp độ tăng trưởng không đồng đều giữa các độ tuổi, giữa trẻ nam và nữ có sự khác biệt với biểu hiện nam tốt hơn ở nữ ở hầu hết các tố chất, ngoại trừ sức mạnh tay lứa tuổi 11-12 nữ cao hơn nam. Qui luật này 44 BµI B¸O KHOA HäC một lần nữa lặp lại trong quá trình phát triển thể lực đã chứng tỏ hiệu quả tác động dương tính của các hormone sinh dục lên toàn bộ quá trình phát triển thể chất của trẻ, đặc biệt là hệ cơ xương. Nam bước vào thời kỳ phát dục muộn hơn (sau tuổi 12 so với nữ là tuổi 10) đã thúc đẩy nhanh quá trình phát triển thể lực, biểu hiện rõ ở sức mạnh (bật xa tại chỗ nam độ tuổi 12 gia tăng 10.70cm, tuổi 13 tăng 16.75cm), sức nhanh và khả năng phối hợp vận động cũng tăng nhanh sau tuổi 11, trong khi các tố chất thể lực này ở nữ có mức gia tăng thấp và tương đối ổn định trong độ tuổi 11-14. Sức bền (yếm khí) ở nam lứa tuổi 14 và ở nữ các độ tuổi giai đoạn này giảm nhẹ liên tục. Kết quả này phù hợp với qui luật phát triển không đồng bộ, bởi tuy hình thái tăng nhanh nhưng năng lực chức phận của hệ hô hấp và đặc biệt là hệ tim mạch phát triển không theo kịp đã làm giảm sút năng lực sức bền của trẻ. So sánh với các nghiên cứu khác cho thấy các tố chất thể lực của HS DTTS lứa tuổi 11–14 khu vực Tây Nguyên hiện tại đạt được tương đương và cao hơn kết quả thu được ở các nghiên cứu thời điểm 2001[1] và 2008 – 2011[2]. Kết quả này cũng cho thấy, khi điều kiện về kinh tế, xã hội có nhiều thay đổi, đời sống của con người được nâng lên, kéo theo sự gia tăng về năng lực thể chất của nhân dân đã phản ánh hiệu quả tích cực của công cuộc cách mạng vì dân của Đảng và Nhà nước. Sau khoảng trên 10 năm, thể lực của HS DTTS lứa tuổi 11 – 14 khu vực Tây Nguyên đã bắt kịp mức phát triển của học sinh toàn quốc thời kỳ 2001-2011. Để làm rõ hơn đặc điểm phát triển thể chất của HS DTTS lứa tuổi 11 – 14 khu vực Tây Nguyên, chúng tôi tiến hành phân tích kết quả nghiên cứu theo tiêu chuẩn rèn luyện thể lực (QĐ 53/QĐ-BGDĐT). Kết quả cho thấy, số lượng học sinh không đạt tiêu chuẩn chỉ bắt gặp ở một số tố chất thể lực với tỷ lệ thấp ở cả nam và nữ (khoảng 12-15%). Tố chất thể lực kém nhất là sức nhanh phản ánh qua test chạy 30m xuất phát cao có tỷ lệ không đạt còn cao và tỷ lệ tốt rất thấp, đặc biệt ở nam. Kết quả này phản ánh đặc điểm độ linh thần kinh và thần kinh - cơ của HS DTTS lứa tuổi 11-14 Tây Nguyên kém phát triển, cần được chú ý trong công tác giáo dục thể chất học đường. Tuy vậy, khi đánh giá tổng hợp (bảng 4) thì thể lực của 100% học sinh đều ở mức đạt và tốt do thang đánh giá có sử dụng qui luật bù trừ giữa các tố chất thể lực. KEÁT LUAÄN 1. Kết quả nghiên cứu đặc điểm phát triển thể chất của HS DTTS lứa tuổi 11-14 khu vực Tây Nguyên cho thấy: Quá trình phát triển thể chất tuân thủ các qui luật tự nhiên sinh học, hoàn thiện, tăng trưởng cùng với sự gia tăng của tuổi, số liệu thu được ở mẫu nghiên cứu có độ tập trung. 2. Mức độ phát triển thể chất của HS DTTS lứa tuổi 11–14 khu vực Tây Nguyên diễn ra không đồng đều giữa các độ tuổi (tăng cao nhất ở nữ độ tuổi 11 và nam ở độ tuổi 13), giữa trẻ nam và nữ có sự khác biệt với biểu hiện nam tốt hơn ở nữ ở hầu hết các chỉ tiêu, test, ngoại trừ chiều cao đứng, cân nặng và sức mạnh tay lứa tuổi 11–12 ở nữ cao hơn nam. Sau khoảng trên 10 năm, thể chất của HS DTTS lứa tuổi 11–14 mới bắt kịp mức phát triển của học sinh toàn quốc thời điểm 2001 và chiều cao đứng vẫn còn thấp hơn trẻ khu vực đồng bằng thời điểm 2014. TAØI LIEÄU THAM KHAÛO 1. Dương Nghiệp Chí, Nguyễn Danh Thái (2003), Thực trạng thể chất người Việt Nam từ 6-20 tuổi, Nxb TDTT, Hà Nội, tr.36-39. 2. Nguyễn Đại Dương & CS (2016), Diễn biến phát triển thể chất của học sinh phổ thông từ lớp 1 đến lớp 12, Nxb TDTT, Hà Nội, tr.138–165. 3. Bùi Quang Hải, Vũ Chung Thủy, Nguyễn Kim Xuân (2015), Tuyển chọn vận động viên thể thao, Nxb TDTT, tr.125. 4. Lưu Quang Hiệp, Vũ Chung Thủy, Lê Đức Chương, Lê Hữu Hưng (2000), Y học TDTT, Nxb TDTT, Hà Nội. 5. Mai Văn Hưng, Trần Long Giang (2033), “Nghiên cứu một số đặc điểm nhân trắc cơ bản của học sinh trung học phổ thông tại Hà Nội”, Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Nghiên cứu Giáo dục, Tập 29, Số 1. 6. Nguyễn Tấn Ghi Trọng & CS (1975), Hằng số sinh học Người Việt Nam, Nxb Bộ Y Tế. Bài viết trích từ kết quả nghiên cứu đề tài KH&CN cấp Quốc gia: “Nghiên cứu giải pháp, chính sách phát triển thể lực, góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực các dân tộc thiểu số đến năm 2030” Mã số: CTDT.23.17/16-20. (Bài nộp ngày 28/1/2019, Phản biện ngày 14/2/2019, duyệt in ngày 22/2/2019 Chịu trách nhiệm chính: Vũ Chung Thủy, Email: vuchungthuytdtt@gmail.com)
File đính kèm:
- dac_diem_phat_trien_the_chat_cua_hoc_sinh_dan_toc_thieu_so_l.pdf