Tiểu luận Hệ điều hành MS DOS

Mục lục

Chương I: 3

tổng quan về hệ điều hành MS-DOS 4

I. Khái niệm hệ điều hành. 4

II. Đặc điểm hệ điều hành MS - DOS . 4

III. Cấu trúc của hệ điều hành MS – DOS. 4

IV. Ưu điểm và hạn chế của hệ điều hành MS – DOS. 5

1. Ưu điểm. 5

2. Hạn chế. 5

Chương II: 6

Các thành phần của hệ điều hành MS - DOS . 6

I. Quản lý tiến trình. 6

1. Khái niệm quá trình. 6

2. Thực hiện quá trình. 6

3. Quản lý tiến trình. 6

Làm việc với các quá trình 8

II. Quản lý bộ nhớ ngoài. 11

Các driver khối 12

III. Hệ thống bảo vệ. 28

1. Dùng phục vụ năm(format track đĩa) để bảo vệ chống sao chép: 29

2. Phục vụ 90 HEX: (AT) Thiết bị bận: 30

3. Undelete: Lệnh được sử dụng khi muốn cứu các tập tin bị xoá. 31

4. Defrag: Lệnh được sử dụng để sắp xếp lại khối lưu trữ của tập tin, tránh tình trạng phân mảnh đĩa: 31

5. Scandisk: Lệnh dùng để phân tích, sửa chữa các lỗi về đĩa hay tập tin, thư mục. 32

7. SHOWMEM.ASM 32

IV. Quản lý bộ nhớ trong. 33

V. Quản lý file 37

1.File là gì? 38

FILENAME.EXT 38

2. Quản lý File 39

VI. Hệ THốNG VàO RA. 41

1. Thiết bị nhập dữ liệu. 41

2. Thiết bị đầu ra 44

VII. Hệ thông dịch 48

 

 

doc51 trang | Chuyên mục: Hệ Điều Hành | Chia sẻ: dkS00TYs | Ngày: 22/10/2014 | Lượt xem: 6091 | Lượt tải: 15download
Tóm tắt nội dung Tiểu luận Hệ điều hành MS DOS, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút "TẢI VỀ" ở trên
ữ liệu nội bộ 128 bit – có thể xử lý 16 byte dữ liệu cùng lúc. Đường dẫn dữ liệu càng rộng thì khả năng của bộ điệu hợp càng cao. Do đó, loại 32 bit xem ra đã lỗi thời, mức chuẩn hiện nay là loại 64 bit để có thể hiển thị phân giải cao, lên đến 1280 x 1024 dpi. Còn loại 128 bit có tốc độ cao thích hợp với yêu cầu công tác nhiều hình vẽ như thiết kế đồ hoạ chẳng hạn.
 Kích thước của màn hình cũng gần như một cái tivi. Thông số dùng để phân loại màn hình máy tính và tivi được quy định giống nhau – là độ dài đo được của đường chéo màn hiển thị. Một máy tính để bàn thông thường có màn hình từ 14 đến 17 inch. Hình ảnh hiện trên màn hiển thị là sự kết hợp của nhiều chấm nhỏ – gọi là điểm ảnh – pixel.
Độ phân giải của màn hiển thị thông thường là 72 điểm trong một inch cho mỗi chiều ngang và dọc. (Đơn vị tính độ phân giải viết tắt là dpi - điểm trong một inch: dots per inch) Độ phân giải càng cao, các điểm ảnh càng sít lại với nhau, hình ảnh càng mịn hơn và đẹp hơn.
 Còn một cách nói khác về kích thước màn hình, thay vì nói về độ dài đường chéo thực sự của màn hiển thị, người ta nói về mức độ phân giải có thể có của màn hiển thị. Nếu nói màn hình 800 x 600 tức là chiều ngang gồm 800 điểm, chiều dọc gồm 600 điểm.
Yếu tố khác nói về khả năng card màn hình là độ sâu màu có thể hiển thị – color depth. Ví dụ như, màn hình đơn sắc thì thể hiện 2 bit cho mỗi điểm, mỗi bit có thể hiển thị hai màu hoặc màu này hoặc màu kia (các màn hình đơn sắc ban đầu thường có máu xám, xanh hay nâu). Nếu mỗi điểm có 8 bit màu thì có khả năng thể hiện 256 màu -28 - đây là khả năng thông thường mà hầu hết tất cả các máy tính hiện nay đều thể hiện được. Loại cao cấp hơn có thể chấp nhận 24 bit màu, tức là khoảng hơn16 triệu màu (16777216 màu – 224), hiện nay trên máy vi tính đã có thể thể hiện 32 bit màu – chấp nhận 4.294.967.296 màu! Số màu có thể hiển thị càng nhiều thì hình ảnh càng trung thực sắc nét và sống động – và chắc chắn là đẹp hơn hình ảnh trên tivi nhiều lần.
Các loại màn hình LCD
 Những loại màn hình LCD bạn thấy hiện nay, về cơ bản có thể được hình dung như hệ thống van điều tiết lượng ánh sáng phát ra từ một nguồn sáng phía sau, bản thân LCD không tự phát sáng như màn hình CRT. Trong màn LCD, ánh sáng đi qua một vài lớp cực mỏng được cấu tạo từ vật liệu tinh thể lỏng có tính phân cực. Chất tinh thể lỏng nằm giữa hai mặt kính mỏng tạo nên màn hình. Hình ảnh hiển thị trên màn hình được xác định bởi một hệ thống lưới ( ma trận ) bao gồm nhiều điện cực, điều tiết lượng ánh sáng đi qua mỗi điểm của lưới (pixel).
Hiện nay, màn hình LCD được phân ra làm hai loại chính: thụ động 
( passive, bao gồm cả dual-scan) và tích cực ( active- TFT). Sự khác biệt cơ bản giữa hai loại là cách thức điều khiển mỗi điểm riêng biệt. Trong màn hình ma trận thụ động, mỗi hàng điểm ngang do một transistor điều khiển. Vì vậy, mỗi điểm được điều khiển một cách thụ động. Trong khi đó, đối với màn hình LCD tích cực, mỗi điểm có một transistor riêng để điều khiển, và đối với màn hình màu thì có đến 3 trasistor cho mỗi điểm ( mỗi trasistor cho một màu cơ bản). Màn hình thực chất là một tập hợp (array) hình chữ nhật bao gồm nhiều trasistor ở dạng lớp mỏng( thin film). Vì vậy còn có tên gọi là TFT ( Thin film transistor).
Màn hình LCD tích cực cho hình ảnh nhanh và đẹp hơn nhiều so với màn hình thụ động bởi khả năng điều khiển lượng ánh sáng đi qua mỗi điểm tốt hơn. Bạn có thể nhận sự khác biệt ở đường nét, độ tương phản, tính trung thực màu cũng như khả năng phản ứng nhanh của màn hình đóng vai tró rất quan trọng trong hiển thị video chuyển động thực. Trong khi các loại màn hình ma trận tích cực mới nhất có khả năng tái hiện video với tỗc độ 20 – 30 khung hình trong một giây thì màn hình ma trận thụ động, kể cả loại dual-scan chỉ đạt tới mức 5 khung hình một giây. Bởi vậy, nếu muốn chơi video MPEG trên máy notebook, bạn không nên chọn màn hình thụ động. Tuy nhiên, do công nghệ phức tạp trong quy trình sản xuất, cũng nh tỷ lệ sản phẩm đạt chất
 lượng không cao (chỉ cần 3 trong số hàng trăm nghìn transistor bị hỏng, màn hình coi như bị loại bỏ), màn hình ma trận tích cực đắt hơn rất nhiều so với màn hình thụ động.
    Công nghệ Dual - scan là một cố gắng nhằm tăng cường hiệu năng của màn hình thụ động mà không làm tăng giá thành. Về cơ bản, theo công nghệ này, màn hình được chia thành hai nửa, với hai transistor cho mổi hàng. Như vậy, thời gian phản ứng, cũng như độ tương phản và độ sáng có tăng lên một ít. Tuy nhiên, so với màn hình tích cực, màn hình thụ động vẫn còn kém một khoảng xa.
    Hiện tại, các loại màn hình dual - scan hay TFT có độ phân giải 640 x 480 hay 800 x 600. Màn hình 640 x 480 thường có kích thước 9,5 hay 10,4 inch (theo đường chéo). Loại 800 x 600 có kích thước từ 10 đến 12 inch. Giá của màn hình 800 x 600 đắt hơn loại 640 x 480 không quá 50 USD.	
b. Máy in.
Máy in được gắn với máy tính sẽ là thiết bị xuất có giá trị lưu trữ bởi các bản in giấy. Máy in có nhiều loại và được chia thành 2 nhóm chính: Máy in gõ hay máy in không gõ ( impact printer ỏ nonimopact printer)
Máy in gõ: Là các máy in theo dòng hay theo ma trận điểm. Các máy in kim là loại này, có đặc điểm là tốc độ in chậm, ồn ào, độ phân giải thấp cho chất lượng in ấn trung bình. Máy in này dùng một đầu kim chạy suốt chiệu ngang giấy để ấn các kim xuống giấy ( Qua lớp băng mực) theo tín hiệu điều khiển, nhiều lần như vậy tạo nên bản in. Số đầu kim của máy càng cao thì tốc độ phân giải đạt được càng cao, các loại máy in 9,18 kim hầu như không còn được sử dụng nữa, thông dụng nhất của máy in loại này có lẽ là có thể in trên khổ giấy lớn mà giá máy rẻ và có thể nhân thành nhiều bản bằng giấy than do sự gõ truyền lực.
Hệ thông dịch
 Hệ điều hành ms-dos là hệ điều hành phiờn bản đầu tiờn của mỏy tớnh,hệ điều hành này sử dụng chế độ giao diện lệnh (command mode).ở đõy người sử dụng(user) ra lệnh cho mỏy thụng qua lệnh được nhập vào từ bàn phớm vỡ vậy mà lệnh là cửa ngừ duy nhất giỳp cho người can thiệp vào hệ thống mày tớnh .lệnh trong ms-dos gồm hai loại là lệnh nội trỳ(internal command) và lệnh ngoại trỳ (external command) trong đú lệnh nội trỳ là lệnh đựoc nạp thường trỳ vào bộ nhớ ta cú thể sử dngj trực tiếp lệnh này bằng cỏch chỉ cần gừ lệnh ,cũn đối với lệnh ngoại trỳ thỡ mỗi khi chạy ta phải nạp vào bộ nhớ từ nguồn chứa tệp lệnh đú.về trực quan 1 lệnh trong dos gồm 3 phần là : tờn lệnh ; điều kiện và tham số ,lệnh trong dos là một chuỗi ký tự đọc được và giữa cỏc phần được ngăn cỏch nhau bởi dấu cỏch(ký tự trắng) và kết thỳc bằng enter ,mỗi lần enter đồng ngió với một lệnh sẽ đựợc tải lờn system bus để vào hàng đợi lệnh chờ CPU xử lý ,hệ điều hành dos cũn được gọi là hệ điều hành khai thỏc đĩa do đú khả năng quản lý và sử dụng tài nguyờn ở đõy là rất chặt chẽ riieng đối với việc quản lý chuỗi ký tự nhập vào thỡ dos sử dụng ham nằm trong ngắt 21h,trong dos cũng phải cú 1 thư viện cỏc lệnh và tương ứng với nú là cỏc chương trỡnh con để thi hành cỏc lệnh đú .ngoài ra dos cũn xõy dựng cỏc trỡnh biờn dịch để cho người sử dụng can thiệp trưc tiếp vào hệ thống thụng qua cỏc chương trỡnh được viết dưới đạng hợp ngữ , nhưng ở đõy ta chỉ xột đến cỏc lệnh cơ bản của dos đõy là cỏc lệnh nờu bật lờn bản chất khai thỏc đĩa của dos.
 Cỳ phỏp tổng quỏt lệnh là:
 Lệnh nội trú:
 Lệnh đối tượng lệnh[[tham số] […]] 
 Lệnh ngoại trú:
 [địa chỉ] Lệnh đối tượng lệnh[[tham số] […]] <enter
(trong đó địa chỉ lệnh là ổ đĩa:\thư mục chứa tập tin chương trình của lệnh ,tham số là các thi hành ,các tuỳ chọn theo đó lệnh thi hành theo yêu của các bạn theo thực tế.)
 Chúng ta có thể tìm hiểu chúng bằng câu lệnh:
 LệNH/?
 Hay 
 [ địa chỉ] LÊNH /?
một số lệnh nọi trú hay dùng gồn:
 DATE :sửa đổi ngày hệ thống.
 TIME :sửa đổi giờ của hệ thống.
 CLS :xoá màn hình. .
 VOL:hỏi tên đĩa.
 PROMPT:thay đổi dấu dợi lệnh.
 PATH:khai báo đường dẫn cho DOS.
 SET:đặt biến môI trường cho DOS.
 COPY:sao chép tập tin .
 TYPE:đọc ra màn hình hay máy in nội dung của tập tin văn bản…
 DIR :xen danh sách tập tin trên đĩa .
 MKDIR:tạo thư mục mới .
 RMDIR:xoá thư mục đã có .
 CHDIR:chuyển sang thư mục .
 Và các lệnh ngoại chú hay dùng:
 LABEL:thay đổi nhãn đĩa.
 ATTRIB:đặt hoặc chỉ ra thuộc tính tập tin.
 CHKDSK:kiểm tra đĩa.
 DISKCOPY:sao chép nguyen đĩa .
 XCOPY:chép tập tin và cả thư mục.
 FORMAT:định dạng đĩa.
 TREE:xem sơ đồ danh sách tập tin và thư mục theo hình cây.
 MORE:trìn bầy thông tin theo tong trang.
 MIRROR:tạo tập tin lưu trữ vùng hệ thống của đĩa.
 UNDELETE:phục hồi tập tin vừa xáo.
 UNFORMAT:phục hồi đĩa bị định dạng.
 SORT:sắp thứ tự thông tin theo chữ hay số. 
Ví dụ
 a:\format c: /q/s
 c:\dir /ư/p.
 c:\md folder
 c:\cd folder
 c:\rd folder 
 c:\copy con tentep.ex
 c:\type type tentep.ex}
 Ngoài ra cũn cỏc lệnh như xem cõy (tree),lễnhoỏ thư mục bằng deltree DOS sẽ hiển thị thong bỏo lỗi nếu như bạn nhập vào một lệnh sai,ngày nay người ta trang bị thờm cỏc tiện ớch như NC cú giao diện panel (cửa sổ) do đú việc thực hiện cỏc lệnh trong dos cú phần đơn giản hơn tuy nhiờn chỉ khỏc về mặt giao diện cũn về cỏch thức điều hành thỡ vẫn khụng thay đổi.
đánh giá công việc và kết luận
Qua quá trình học tập và nghiên cứu tiểu luận “Hệ điều hành MD – DOS”. Đây là một đề tài không khó so với các đề tài khác, nhưng với chút hiểu biết trong quá trình học tập và phạm vi đề tài của chúng em chưa được rộng lắm. Đề tài của chúng em còn hạn hẹp, tuy nhiên cũng đã làm rõ được một số vấn đề cơ bản của đề tài:
Quản lý tiến trình.
Quản lý bộ nhớ.
Quản lý bộ nhớ phụ.
Quản lý hệ thống vào ra.
Hệ thống bảo vệ.
Hệ thống giải thích lệnh.
Nhưng do thời gian còn hạn hẹp và còn thiếu một số kiến thức thực tiễn, cho nên bài làm của chúng em chắc chắn sẽ còn nhiều thiếu sót, không thể thiếu được trong quá trình làm bài. 
Đối với chúng em là những sinh viên chuyên ngành công nghệ thông tin, tham vọng của chúng em là mang những gì đã học hỏi được của thầy cô khi ngồi trên ghế nhà trường. Vì vây chúng em rất mong sự góp ý, phê bình của thầy để chúng em hiểu rõ về đề tài.

File đính kèm:

  • docTiểu luận Hệ điều hành MS DOS.doc